Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp ACR 1987 và EULAR 2010 là đánh dấu sự phát triển của y học hiện đại trong nghiên cứu triệu chứng, điều trị bệnh tốt hơn. ACR 1987 và EULAR 2010 là bộ quy tắc tiêu chuẩn không thể thiếu để phát hiện bệnh viêm khớp dạng thấp và những tiến triển bệnh tốt hơn.

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp ACR 1987

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp ACR 1987 được thống nhất áp dụng ở nhiều quốc gia khác nhau. Bao gồm 7 tiêu chuẩn như sau:

  • Cứng khớp vào buổi sáng, tối thiểu 1 tiếng đồng hồ.
  • Sưng, đau nhức tối thiểu 3 trong 14 khớp như: cổ tay, ngón gần, cổ tay, khuỷu, cổ chân, gối và bàn ngón chân ở 2 bên.
  • Sưng, đau ít nhất 1 trong 3 khớp đặc hiệu đó là: khớp bàn ngón, khớp cổ tay và khớp gần.
  • Tính chất sưng, đau đối xứng.
  • Xuất hiện hạt thấp ở dưới da.
  • Trong huyết thanh dương tính có nhân tố dạng thấp.
  • Hình ảnh X- quang viêm khớp dạng thấp có những thương tổn điển hình.

Chẩn đoán xác định khi có tối thiểu 4 tiêu chí trên với điều kiện diễn biến của bệnh diễn ra trên 6 tuần. Tiêu chuẩn ACR 1987 có độ đặc hiệu 89%, độ nhạy 91- 94% ở người bệnh viêm khớp dạng thấp đã ở giai đoạn tiến triển. Trong khi đó, mức độ khởi phát, theo tiêu chuẩn này độ đặc hiệu từ 50- 90%  và độ nhạy từ 40- 50%.

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp EULAR 2010

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp EULAR 2010 sẽ có những điểm khác biệt so với tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp ACR 1987. Cụ thể như sau:

  • Số khớp bị sưng đau

Ở giai đoạn khởi phát, bệnh nhân bị sưng đau ít nhất 2 khớp lớn tối thiểu 23, 8%. Sau đó, số lượng khớp bị sưng đau sẽ tăng lên.

  • Xét nghiệm và phản ứng pha cấp

Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp ACR 1987 và EULAR 2010 1

Xét nghiệm phản ứng pha cấp sẽ thấy mức độ tăng, CRP và tốc độ lắng máu đều tăng. Trong đó, tốc độ lắng máu tăng khoảng 88,1%- 92,9%. CRP dao động tăng từ 88,1%- 83,3%. Tốc độ của CRP và lắng máu có sự khác nhau do các nguyên nhân sau: CRP thường có sự thay đổi nhanh hơn máu lắng. Chính vì vậy, kết quả theo dõi trong bệnh lý viêm không nhạy và dấu hiệu tăng nhẹ nên không thể khẳng định bệnh lý cụ thể.

  • Xét nghiệm huyết thanh

Bệnh nhân sẽ phải xét nghiệm ít nhất 1 lần đối với huyết thanh. Kết quả của xét nghiệm huyết thanh cần có sự kết hợp với các triệu chứng lâm sàng bệnh để đưa ra những chẩn đoán chính xác. Người bị bệnh viêm khớp dạng thấp thường có RF và anti- CCP dương tính và có thể bệnh đang phát triển ở giai đoạn nặng. Trong khi đó, RF âm tính và anti- CCP dương tính cùng với các triệu chứng lâm sàng sẽ cho kết quả: viêm khớp dạng thấp mới ở giai đoạn khởi phát hoặc bệnh chưa diễn ra nhưng sẽ có khả năng bị bệnh trong khoảng thời gian sắp tới…. Kết quả của RF và anti- CCP cũng sẽ cho biết bạn bị bệnh viêm khớp dạng thấp hay không?

Trên đây là 2 tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp ACR 1987 và EULAR 2010. Cùng với triệu chứng cận lâm sàng khác và nhiều yếu tố khác, các bác sĩ sẽ căn cứ để đưa ra những chẩn đoán chính xác và sử dụng phương pháp chữa trị kịp thời.